Liệu Wegovy có thể “thay đổi cuộc chơi” trong việc kiểm soát cân nặng ở người thừa cân hoặc béo phì?

Vào ngày 4/6/2021, FDA đã chính thức phê duyệt Wegovy (semaglutide) dạng chích 2.4 mg tuần 1 lần để kiểm soát cân nặng mãn tính ở người trưởng thành thừa cân hoặc béo phì (BMI 27kg/m2) có ít nhất 1 bệnh lý liên quan (cao huyết áp, ĐTĐ týp 2, hoặc cholesterol cao) hoặc bênh nhân có BMI trên 30kg/m2; Mối liên hệ giữa béo phì và bệnh ĐTĐ týp 2 đã được công nhận - nếu không có sự can thiệp, béo phì có thể dẫn đến bệnh ĐTĐ týp 2. Việc Wegovy được chấp thuận để sử dụng trong kiểm soát cân nặng sẽ “thay đổi cuộc chơi" trong việc giảm trọng lượng cơ thể và giảm khả năng phát triển ĐTĐ týp 2.

Tác giả: ,

Cập nhật lần cuối lúc 10:17, 09/12/2021. Phản hồi về nội dung, liên hệ với chúng tôi tại đây

Thừa cân và béo phì là một thách thức cho sức khoẻ của toàn cầu. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), vào năm 2016, trên thế giới có khoảng 2 tỷ người lớn trên 18 tuổi là thừa cân, trong đó hơn 650 triệu người mắc bệnh béo phì (BMI ≥30 kg/m²). Tỷ lệ thừa cân và béo phì chiếm tỷ lệ lần lượt là 39% và 13%, tăng gần gấp ba lần từ năm 1975 đến năm 2016. Riêng ở Việt Nam, tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em độ tuổi 5-19 trong 10 năm qua tăng ở một tốc độ báo động, gấp 2,2 lần, từ 8,5% (2010) đến 19% (2020). Với tình hình kinh tế ngày càng phát triển, kèm theo chiến lược giãn cách xã hội trong thời kỳ Covid-19, việc trẻ em ăn uống tự do hơn, ít hoạt động thể chất hơn cũng góp phần dẫn đến thừa cân, béo phì và lâu dài có thể gây ra nhiều nguy cơ với sức khỏe khi trẻ trưởng thành.

Béo phì có liên quan đến các bệnh lý rối loạn chuyển hoá như đái tháo đường týp 2, gan nhiễm mỡ không do rượu. Để giảm cân & duy trì cân nặng, bên cạnh thay đổi lối sống (ăn kiêng & tập thể dục) vốn là nền tảng, việc sử dụng thuốc cũng được áp dụng. Tuy nhiên hiệu quả khá khiêm tốn và còn lo ngại về an toàn cũng như chi phí.

Vào ngày 4/6/2021, FDA đã chính thức phê duyệt Wegovy (semaglutide) dạng chích 2.4 mg tuần 1 lần để kiểm soát cân nặng mãn tính ở người trưởng thành thừa cân hoặc béo phì (BMI 27kg/m2) có ít nhất 1 bệnh lý liên quan (cao huyết áp, ĐTĐ týp 2, hoặc cholesterol cao) hoặc bênh nhân có BMI trên 30kg/m2. Semaglutide được phê duyệt dùng làm 1 liệu pháp bổ sung cho chế độ ăn uống và tập luyện thể dục. 

Cuộc thử nghiệm lâm sàng SUSTAIN cho thấy semaglutide mang lại lợi ích giảm trọng lượng cơ thể bằng cách giảm cảm giác thèm ăn trong bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ týp 2. Ngoài ra, semaglutide giúp cải thiện khả năng kiểm soát nhận thức về thức ăn, giảm sở thích đối với thực phẩm giàu chất béo. Do đó, semaglutide được thử nghiệm để tìm hiểu hiệu quả kiểm soát cân nặng trong bệnh nhân thừa cân hoặc béo phì.

Semaglutide dẫn đến giảm cân ở những người mắc ĐTĐ týp 2 và ở người lớn mắc bệnh béo phì trong những người tham gia thử nghiệm giai đoạn 2. Dưới sự thiết kế và giám sát của Novo Nordisk, chương trình điều trị Semaglutide giai đoạn 3 toàn cầu ở những người bị béo phì (STEP – Treatment Effect in People with Obesity) được tiến hành để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của semaglutide tiêm dưới da với liều 2,4 mg một lần mỗi tuần ở những người thừa cân hoặc béo phì, có hoặc không có các biến chứng liên quan đến cân nặng. Kết quả thử nghiệm cho thấy nhóm bệnh nhân dùng semaglutide giảm trung bình 14.9% trọng lượng cơ thể sau 68 tuần so với 2.4% ở nhóm sử dụng giả dược

Wegovy (semaglutide) được nghiên cứu trên bốn thử nghiệm kéo dài 68 tuần. Trong đó, ba thử nghiệm là ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược (bao gồm thời gian tăng liều trong 16). Thử nghiệm còn lại là dưới dạng mù đôi, đối chứng giả dược, rút lui ngẫu nhiên (randomized withdrawal trial), trong đó bệnh nhân đang được sử dụng Wegovy được tiếp tục với điều trị hoặc được chuyển sang giả dược. Hơn 2,600 bệnh nhân được điều trị với Wegovy đến 68 tuần trong 4 nghiên cứu này và hơn 1,500 bệnh nhân sử dụng giả dược. Nghiên cứu đối chứng giả dược tuyển chọn bệnh nhân không có ĐTĐ, độ tuổi người tham gia trung bình là 46 tuổi vào thời điểm bắt đầu nghiên cứu và 74% bệnh nhân là nữ. Cân nặng trung bình là 105 kg và chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 38 kg/m2. Những bệnh nhân được điều trị với Wegovy giảm trung bình 12.4% cân nặng kể từ lúc tham gia nghiên cứu so với bệnh nhân sử dụng giả dược. Một nghiên cứu khác tuyển chọn bệnh nhân có ĐTĐ týp 2, độ tuổi trung bình là 55 và 51% bệnh nhân là nữ. Cân nặng trung bình là 100 kg và chỉ số khối trung bình là 36 kg/m2. Trong nghiên cứu này, nhóm điều trị với Wegovy giảm 6.2% cân nặng so với nhóm sử dụng giả dược.

Xem thêm:  5 điều cần biết về mảng thuốc béo phí của Novo Nordisk

Mối liên hệ giữa béo phì và bệnh ĐTĐ týp 2 đã được công nhận – nếu không có sự can thiệp, béo phì có thể dẫn đến bệnh ĐTĐ týp 2. Vì vậy, việc Wegovy được chấp thuận để sử dụng trong kiểm soát cân nặng sẽ “thay đổi cuộc chơi” trong việc giảm trọng lượng cơ thể và giảm khả năng phát triển ĐTĐ týp 2. Tuy nhiên, Semaglutide chỉ là liệu pháp hỗ trợ. Việc kết hợp chế độ ăn kiêng, tập luyện và sử dụng thuốc là bộ đôi chiến lược để giảm cân hiệu quả và duy trì lâu dài.

Wegovy cho thấy hiệu quả giảm cân trong thử nghiệm STEP, tuy nhiên người tham gia nghiên cứu là những người lớn với độ tuổi trung bình là 40 và 55 tuổi. Trong khi đó tại Việt Nam, một số lượng lớn người bị thừa cân và béo phì nằm ở độ 5-19 tuổi. Vì vậy, chúng ta cần có thêm nghiên cứu về hiệu quả và tính an toàn của việc sử dụng Wegovy ở người trẻ tuổi hơn.

Một điều khác cần được cân nhắc về loại thuốc mới này là Wegovy được dùng ở dạng tiêm dưới da. Điều này sẽ có thể là rào cản trong hướng dẫn sử dụng thuốc và tuân thủ của bệnh nhân. Tuy có nhiều thuốc sử dụng trong điều trị ĐTĐ týp 2 là ở dạng tiêm, thuốc viên uống vẫn được ưa chuộng hơn vì dễ sử dụng và không gây đau. Liệu thuốc Rybelsus (semaglutide) dùng trong điều trị ĐTĐ týp 2 ở dạng đường uống bởi cùng nhà sản xuất Novo Nordisk có được FDA phê duyệt để giảm cân trong người thừa cân, béo phì trong tương lai gần?

Ở Việt Nam, Semaglutide chưa được Bộ Y Tế cấp phép lưu hành. Khi thuốc được cấp phép lưu hành tại Việt Nam,  vấn đề giá và chi trả cũng là một thách thức khi bệnh nhân mắc bệnh mãn tính gần như phụ thuộc vào bảo hiểm y tế để tiếp cận các phương pháp chăm sóc và điều trị cần thiết dành cho họ.

Chia sẻ bài viết này